Vừa chạy vừa giữ mặt nạ, hay là Những sang chấn khi dịch Tàn ngày để lại của Ishiguro

Dăm năm trở lại đây, cùng với độ chín (hơn) của tuổi đời cùng với cái tạm gọi là tuổi nghề (mà tôi vẫn rón rén chưa dám nhận đó là nghề-của-mình, vì càng lâu càng cảm thấy mình vẫn là một kẻ tập sự trong nghề cũng như trong ngôn ngữ), tôi dần hình thành một niềm mê tín như thế này: Mỗi quyển sách dịch ra đời đều có số của nó. Nó được để mắt đến lúc nào, rơi vào tay ai, ra đời năm bao nhiêu, dưới dạng thức nào, đấy là do “cả vũ trụ hợp lại” (cọp lời tác phẩm self help quốc dân) để khiến nó trở thành ra như thế. Và vì vậy, có những tác phẩm vĩ đại của nước X mãi mãi không được dịch ở một nước Y nào đó, có những tác phẩm được dịch đi dịch lại nhiều lần, có những tác phẩm xoàng xĩnh ở nước Z nhưng sang nước Q lại thành sao sáng nhờ thời điểm, may mắn, PR, và – điều này là có thể ông giáo ạ – bản dịch lại còn hay hơn bản gốc. Lại có những quyển sách của tác giả tầm cỡ Nobel Booker, người dịch kinh nghiệm, tiếng Việt đẹp, team biên tập xịn, bìa họa sĩ hàng đầu và PR cũng không phải ít, nhưng không hiểu do quá dày lại còn ra cùng lúc với 2666 hay là do cái tên quá ư Truyện trẻ con mà, à mà thôi.

Để giải thích thêm về điều mê tín đó, cũng cần nói qua về tôi trước đó như thế nào [nb: vì bài viết này đăng ở mục Ngắm rốn, nên hẳn bạn đã hình dung được nội dung và phong cách của vạn chữ sau đây]. Khi chân ướt chân ráo bước vào làng dịch mười mấy năm trước, tôi tâm niệm rằng: với mỗi tác phẩm A khi xuất hiện ở ngôn ngữ B, cần một và chỉ một bản dịch definitive. Nếu Genji monogatari có đến bốn bản dịch đủ và gần đủ sang tiếng Anh, đấy là vì những người dịch trước bị hạn chế bởi hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa, chưa kể đến thói quen khó chịu của dịch giả Anh ngữ cứ muốn viết lại hoàn toàn những câu từ Á Đông. Nếu Borges có đến mười mấy (tôi không còn nhớ là bao nhiêu) dịch giả trong tiếng Anh, đấy cũng là vì những lý do tương tự, chưa kể đến những câu chuyện lằng nhằng về bản quyền, lòng tham, và tình yêu sở hữu. Những tác phẩm thế giới chưa được dịch, hoặc chưa được dịch chuẩn (định nghĩa chuẩn như thế nào thì lại là một lon giun khác), thì giờ đây trong thời đại số, khi cánh cửa vào mọi kho tàng tri thức đều mở bung (đấy là tôi tưởng vậy), chỉ cần các dịch giả trẻ vũ trang bằng khả năng IT siêu đẳng, một tình yêu vô bờ với văn chương, một năng lượng không bao giờ cạn, và một bộ kỹ năng dịch đã được khẳng định qua nhiều phép thử sai, là có thể ra một sản phẩm nhằm để lưu giữ vĩnh cửu. Trong đội quân dịch giả trẻ ấy ắt sẽ có tôi, tự tin nhằm kinh điển xông lên, bản thảo nào cũng hoàn thành, chơi chữ nào cũng vượt qua, cối xay gió nào cũng đánh thắng.

Nói chung ngựa non háu đá thì thường có những niềm tin như vậy.

Giai đoạn thứ hai của tôi trùng vào giai đoạn văn học dịch ở Việt Nam (đương đại) bung nở, nhà nhà dịch sách, người người dịch sách, tôi cầm dăm ba đầu sách dịch mãi không xong, nhìn xung quanh mà sốt ruột, nhìn người khác mà hiềm tỵ, nhìn lỗi sai trong sách in mà điên tiết, ngày ngày chỉ trời vạch đất nói ba mươi lần câu “thà đọc bản gốc còn hơn”. Khoảng thời gian đó tôi đọc tiếng Anh nhiều hơn đọc tiếng Việt, tiếng Việt mỗi lần đọc trúng chữ gì không dịch giống như mình muốn là nghiến muốn rụng răng, cảm thấy trên đời này không còn đạo lý gì nữa. Tôi hoàn toàn không nhớ rằng suốt thời tuổi nhỏ tôi đã lớn lên bằng bản dịch – tôi không đọc sáng tác (văn xuôi) của tác giả Việt Nam trước khi vào cấp 1, và chỉ bắt đầu đọc văn học Việt Nam hiện đại (đừng nói đến đương đại) một cách nghiêm túc khi sắp ra trường. Tiếng Việt văn viết của tôi, thật tréo ngoe, được hình thành qua bản dịch. Nhưng khoảng thời gian thứ hai này, như một kẻ vô ơn đích thực, tôi chối từ triệt để sản phẩm của đồng nghiệp tôi, tiền bối tôi.

Để đi từ câu tự an ủi đậm chất AQ Zen “thôi thì mình không thể dịch hết sách trong thiên hạ” sang đến nhận thức đỡ nặng đầu hơn, và thực tình là có lợi hơn “có nhiều kiểu hay và thường kiểu hay của thiên hạ sẽ thú vị hơn kiểu hay của mình” (vì kiểu hay của mình thì mình đã biết từng ấy năm rồi, ngắm rốn mãi cũng phải đến lúc chán) tôi đã phải trưởng thành hơn một chút, hay nói cách khác là phải bị cuộc đời giã giò cho kha khá để tém bớt lại cái tôi phì đại của mình. Giai đoạn thứ ba này, tôi may mắn sao lại được gặp rất nhiều bản dịch tốt của những dịch giả tuyệt vời mà tôi chưa biết rằng có (mà nếu không đọc thì sao biết được, phỏng?), và cũng vấp phải những vấn đề trong khi dịch không thể giải quyết được nếu chỉ loanh quanh trong vốn từ/kinh nghiệm/bộ kỹ năng mà tôi đã một thời từng rất tự đắc của mình, khiến tôi phải lao ra ngoài, đọc thêm, học thêm, tìm hiểu thêm nữa (và mua thêm vài tủ sách, mà giờ đã lại chật rồi). Tất nhiên càng đọc cái tôi càng teo lại bé tí, nhưng/nên độ linh động lại cao lên mấy tầng, và rốt cuộc đến một lúc nhận ra nếu từ chối tất cả các thứ, thì người thiệt chỉ là mình. (Còn dĩ nhiên cái gì tôi không mê thì tôi vẫn không mê.)

Điều duy nhất tôi vẫn giữ vững qua các giai đoạn đấy, và củng cố hơn, đấy là định hướng của tôi về việc dịch: cái đích để vươn tới (đã sửa từ “tiêu chí” hay “đòi hỏi” hay “không được thì đừng có làm!”) là cố gắng sao cho giống về văn phong đối với bản gốc hết mức có thể/trong phạm vi khả năng của mình. (Việc dịch sao cho chuẩn, đúng ý thì là dĩ nhiên.) Tôi nghĩ văn phong là phần duy nhất, khi đã ngồi vào bàn với một dự án dịch văn học cụ thể (tức là sau tất cả những câu hỏi có nhận hay là không, dành cho nó một tháng hay mười năm, đòi một cái giá cắt cổ hay là làm vì tình iêuuuu), khiến cho người dịch này khác với người dịch kia, khiến cho từng người dịch chứng tỏ triết lý dịch, mức độ cẩn thận, trình độ ngôn ngữ, cá tính… của mình. Tất cả những yếu tố khác – nhân vật, cốt truyện, cấu trúc, người kể chuyện bất khả tín – trừ phi kiểm duyệt yêu cầu cắt sạch một câu hay một đoạn hay một chương, nói chung đều không nằm trong tầm kiểm soát của người dịch. Thứ duy nhất người dịch kiểm soát được, thứ duy nhất khiến họ cảm thấy “mình” có ý nghĩa, đấy là văn phong; còn lại thì chỉ đơn thuần là ngồi gõ ra cho đủ số chữ mà thôi.

(Ở đây lại phải chua rõ cosplay Stevens rằng tôi nghĩ (1) nói chung, văn phong là phần duy nhất làm nên người dịch, (2) cách “làm nên” cá nhân tôi là cố gắng đưa ra một văn phong gần với bản gốc; một người dịch khác có thể có triết lý dịch khác, cần cập nhật ngôn ngữ cho thích hợp với thời đại, cần sửa ngôn ngữ Anh Anh khi bán cho thị trường Anh Mỹ, cần tém bớt những câu tục tĩu để cuốn sách dễ nuốt hơn với đại chúng, hoặc tác giả viết chán vãi để tôi viết lại từ đầu hay hơn bao nhiêu, thì đấy là lựa chọn của trường hợp cá thể đó, nhưng không mâu thuẫn với (1). (Ở đây cũng lại mở ra câu hỏi “người dịch” mà chúng ta nói tới có bao nhiêu phần là “người trực tiếp bắt tay vào dịch và đứng tên trên bìa sách”, còn bao nhiêu phần là những dòng chảy ngầm của biên tập viên, nhà xuất bản, cơ quan quản lý, thị trường…, nhưng đây là một cái lon giun khác mà tôi sẽ không đi vào lúc này. Có lẽ với hầu hết sản phẩm dịch ở dạng khi đã ra mắt độc giả, nói về “bản dịch” sẽ an toàn hơn là nói về “người dịch”, nhưng vì bài viết này tôi đi từ khía cạnh performative của một trải nghiệm cá nhân, nên thôi cứ tạm dùng chữ “người dịch” vậy.))

Trong hội thảo về dịch tổ chức ở Viện Goethe hồi tháng 11/2020, mà hy vọng các tham luận sẽ xuất hiện trong số Zzz Review về văn học dịch sắp tới, dịch giả Đăng Thư ví việc dịch với diễn tấu một bản nhạc: cùng nhìn vào một bản nhạc giống nhau, mỗi nhạc công cổ điển sẽ chơi theo cách riêng của mình, dĩ nhiên không phải thành rock hoặc rap Việt (như vậy thì là chuyển thể chứ không còn là dịch), nhưng sẽ có cách thể hiện mang đặc trưng riêng. Còn tôi, tôi luôn nghĩ người dịch giống như một diễn viên, phải diễn thế nào trong từng câu chữ để ra được “vai” tác phẩm càng giống như ý định của tác giả càng tốt. Nếu muốn được đánh giá cao về diễn xuất, người dịch phải cố gắng diễn hợp với nhiều kiểu vai khác nhau. Mỗi tác giả có một phong cách khác nhau, cần phải diễn cho ra cái hồn của vai đó. Chưa kể, mỗi tác giả trong từng tác phẩm cũng đã làm diễn viên cho các nhân vật khác nhau (nếu cầu kỳ, như Lincoln ở cõi trung ấm, với 166 con người ma, thì thật là một sự khổ cho dịch giả). Người dịch vì vậy còn phải là diễn-viên-bình-phương nữa.

Từ đó mà tôi đi đến ý nghĩ hiện tại: mỗi quyển sách dịch đều có số của nó, cũng như mỗi bộ phim chuyển thể vậy. Đôi khi bạn nghe tin cuốn sách gối đầu giường của bạn sắp được lên màn ảnh, và bạn đã vẽ ra trong đầu một dàn cast trong mơ. Sau đó hãng phim công bố dàn cast ngoài mơ, và bạn nhảy nhổm, giơ nắm đấm, lên facebook khóc lóc tẩy chay, và (nếu bạn không quá cực đoan) đến ngày ra rạp thì đi xem trong hậm hực. Sau đó có thể là một trong các trường hợp: bạn phát hiện ra diễn viên này quá tuyệt đi, cứ như sinh ra để cho vai đó, dù không phải như bạn tưởng tượng. Thời nắng lịm của Hoàng Đăng Lãnh dịch có một “mùi” khác hẳn với bản tiếng Anh mà tôi đã đọc, nhưng bác đã đem cả cuộc sống của mình trong hai phiên bản chủ nghĩa xã hội (Việt Nam và Đông Đức) để làm thành một bản dịch nghe cứ như Nguyễn Khải kể chuyện quê ta. Hoặc bạn phát hiện ra diễn viên này tạo ra một nhân vật riêng, không giống gì với tưởng tượng của bạn và của hầu hết các nhà phê bình trước đó, nhưng lại là một khám phá mới cho bạn thấy một chiều sâu mới của nhân vật chưa từng nhận thấy. Hoặc ngược lại, có khi bạn thấy một diễn viên gạo cội đã từng Oscar ở nhiều vai khác, nhưng thử sức ở vai mới này lại chưa thật thành công. (Tôi cũng định dẫn ví dụ ở đây nhưng khen dễ chê khó (đối với tôi), nên thôi.) Nhưng dù bạn thích thú hay khóc lóc, phim cũng đã ra rồi. Có thể hai mươi năm sau người ta sẽ làm lại bộ khác, nhưng diễn viên trong mơ của bạn đã hết thời xuân sắc. (Và có thể thứ bạn ghét thì vẫn có người mê! Và ngược lại. Chẳng hạn tôi nghĩ tôi có thể xem lại thêm chục lần nữa Cats (the movie) dù đã xem chắc phải trăm lần Cats (the musical).) Nhưng tất nhiên diễn viên cũng chỉ là một phần làm nên thành công (hoặc không) của bộ phim. Với hầu hết các cuốn sách, có thể nội dung và thông điệp và cấu trúc và quà tặng kèm có chữ ký tươi của tác giả ở tận bển ship về đã là đủ mạnh để giao vào tay người dịch nào cũng được tiếp nhận không khác nhau lắm. Với một số cuốn sách khác, phong cách lại là thế mạnh duy nhất của nó. Với một cuốn sách khác nữa, phong cách là một phần quan trọng làm nên danh tiếng của nó ở ngôn ngữ gốc, nhưng dù bản dịch có lệch đi khỏi đó, nó vẫn được chấp nhận trong tấm áo mới (vì đằng nào, nói thật, người đọc cũng không bao giờ tiếp nhận được một trăm phần trăm tác phẩm, kể cả mỗi năm bạn bưng cuốn Truyện Kiều của Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp ra đọc từ đầu đến đuôi). Tất cả đó là số của nó.

Đấy là từ phía cuốn sách. Từ phía người dịch, điều này còn đúng hơn nữa: đời người dịch thì ngắn mà sách thì dài, và trừ phi bạn có vô tận tiền nong và vô tận thời gian (ie. sách không có bản quyền và không có nhà nào khác đang thập thò ra, hoặc bạn chỉ dịch chơi đăng blog để đám bán chữ lấy tiền hiểu được rằng sản phẩm của đam mê là nó phải như thế) thì bạn chỉ có một giai đoạn hết sức ngắn ngủi (và lòng kiên nhẫn của người nắm bản quyền hết sức ít ỏi) để ra một sản phẩm sẽ được lưu lại ít nhất cho đến khi… có thể nói là cho đến vĩnh viễn, vì tỷ lệ bản dịch được trao lại cho dịch giả để đại tu như Sông Đông êm đềm hay Ruồi trâu (hay Chuyện người Tùy nữ của tôi) là rất ít. Vì vậy, có khi bạn quá trẻ và chưa đủ vốn từ để giải quyết một bản gốc dùng toàn những từ moi ra từ những trang chưa hề quăn mép của Từ Hải hoặc OED, hoặc có khi bạn đã quá già không thể diễn đạt nổi câu chuyện tình yêu năm 202x bằng giọng thế hệ Tik Tok, hoặc năm năm sau bạn bắt đầu học tiếng Nhật và phát hiện ra bản tiếng Anh bạn đã dùng để dịch lúc trước hiểu sai bét, hoặc bạn gặp công việc đột xuất và đành bỏ ngang một dự án dịch mà ban đầu bạn ôm mộng để đời sẽ đạt giải thưởng dịch của Zzz Review (giả sử thế thôi chứ giờ chúng tôi chưa có). Đấy cũng là số của nó. Và người dịch bước vào mỗi cuốn sách dịch có phần run rẩy vì đây gần như là cơ hội duy nhất để làm nên một sản phẩm mà, nếu không được đón nhận tốt, có thể đặt dấu chấm hết cho một cuốn sách, một tác giả, một sự nghiệp dịch.

(Bài full ở bên phía Zzz Blog. Dài vch a.)

Người ngồi bên tay phải Borges

Đây có thể là một câu chuyện đẹp. Câu chuyện về ba nhân vật: Chàng thanh niên, Cụ già, và Những người còn lại. Chàng thanh niên đã gặp được Cụ già vào một thời điểm cốt tử trong đời, đã vì cụ, bảo vệ cụ, giải thoát cho cụ khỏi cái hang rồng của Những người còn lại, và hơn hết, đã thương yêu khích lệ để cụ tưởng đã già và bất lực lại bừng nở trong một thời Thanh xuân thứ hai, để lại vĩnh viễn cho hậu thế những trái vàng trái bạc thành quả chung của họ.

Đây cũng có thể là một câu chuyện bi ai. Khi Những người còn lại đã cướp lại cụ nhốt vào hang rồng để cụ qua đời trong đau đớn và cô độc, trái vàng trái bạc thu về lót giường cho con Lindworm nhân bội mãi lên, để chàng thanh niên cô đơn và bị sỉ mạ, lang bạt giữa đời, hoài công hát cho những người chịu nghe về bất công mình phải chịu, tuy bất công ấy có là gì so với bất công mà cụ đã phải chịu, vì rốt cuộc, kiếm thánh của chàng cũng không chống cự nổi Những người kia.

Dù sao thì đây cũng là một câu chuyện rất Borges, không phải bởi vì tự thân nó Borgesian, mà bởi vì những người nào đã một thời gian đọc Borges, dù ghét hay ưa hay hoang mang chẳng hiểu gì, đều không thể không nhiễm lấy một phần giọng Borges, và nếu ở quá lâu bên Borges không thể nào không nộp mình cho cách nhìn thế giới của bậc thầy, và cuối cùng, thấy bản thân mình cũng biến thành một nhân vật trong truyện Borges, một câu chuyện vang lên rất nhiều từ “số phận” hay “quy hồi vĩnh cửu”. Ít ra thì đấy là câu chuyện được kể là đã xảy ra với nhân vật ấy, di Giovanni.

(Bài full ở bên phía Zzz Review.)

Borges 1969 ảnh Norman Thomas di Giovanni cung cấp.png

Atwood đã dạy tôi làm đàn bà như thế nào: Đọc lại Chuyện người Tùy nữ năm 2018

Những người sản xuất của Hulu vẫn hoài công nhắc nhở rằng season 1 bộ phim đã gây sóng gió The Handmaid’s Tale (2017) đã lên ý tưởng chuẩn bị đi vào sản xuất từ lâu trước khi Đại gia Trump trở thành Người Quyền Lực Nhất Trái Đất số 45 và một nửa nước Mỹ chợt thấy mặt đất dưới chân mình chao đảo, trong số đó có một lượng lớn các chị em kinh hãi thấy “grab them by the pussy” hẳn sẽ đi vào lịch sử trong top 5 danh ngôn được trích dẫn nhiều nhất của các đời tổng thống. Nhưng nếu trái đất đã xoay đi hơi khác, thì dưới thời nữ tổng thống đầu tiên của Hua Kỳ, hẳn đã không có các Women’s March hay khí thế tức nước vỡ bờ của #MeToo, bộ phim cũng không thể lên như diều gặp gió thời đại, các site phim lậu ở đất nước luôn nhanh nhảu về giải trí ở cách nửa vòng trái đất rẽ từng mây đã không nhập khẩu về ồ ạt, khiến một loạt bạn trẻ thế hệ sau bỗng dưng sốt sắng đi lùng tìm một cuốn sách ế đã tuyệt bản vài năm nay, làm đơn vị xuất xưởng cuốn sách ế nói trên sau khi nhấc lên đặt xuống nhiều lần cũng nhún vai tái bản, còn tôi có dịp đọc lại bà nhà văn đã trở thành ánh sáng của đời tôi này. Vậy là qua một chuỗi sự kiện rất ngoắt ngoéo về logic và cộng dồn những (tiến) độ trễ về thời gian, tôi có Trump để cảm ơn (và quý vị đã biết ai cần đổ tội) vì có cơ hội viết những dòng này, về Chuyện người Tùy nữ sắp tái bản tiếng Việt và hứa hẹn vẫn ế y như trước.

(Bài full bên phía Zzz Review.)

Kiều múa

Kiều đẹp nhất khi Kiều hóa dại. Lúc ấy Súy Kiều đủ lu mờ mọi Súy Vân: tóc nàng xõa tung, váy nàng bay tung, nàng lượn một vòng đầy sân khấu. Khán giả nín thở. Mình nhỏ một giọt nước mắt tí xíu.

Mười lăm năm chăm chút chỉ dành cho giờ phút này: cầm kỳ thi họa hoa thắm liễu xanh chỉ để đặt lên bàn cân cho vừa túi vàng trong tay gã buôn thịt. Thề non hẹn biển cũng chỉ dành cho giờ phút này: giờ phút đập bỏ câu thề. Nhạc giáng xuống sàn theo mái tóc Như Quỳnh xổ tung lời Nguyễn Du nén trong mấy câu sáu tám:

Duyên hội ngộ đức cù lao
Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn?
Để lời thệ hải minh sơn
Làm con trước phải đền ơn sinh thành!

Mười lăm năm về sau cũng chỉ gói gọn trong giờ phút này. Trong một cái dập đầu Kiều đã đốt cầu sau lưng, đã sập cửa, đã bước sang Kiếp Khác (C). Đấy là bến đò Styx, là cửa Luyện ngục, là mốc số 0 trên tia số, từ đó âm dương hoán đổi, từ đó chỉ có đi thẳng về phía trước, không đường quay lại. Từ đó về sau chỉ có một màu, sắc độ có khác nhau nhưng cơ bản là không thay đổi. Mười lăm năm lắm sự kiện, qua tay lắm người, xuống lên lên xuống hình sin, bày ra lắm chi tiết cho vui chứ cơ bản cũng chỉ là độc điệu. Bốn lần nhớ nhà, bốn lần đánh đàn được các sách trầm trồ phân tích chẳng qua là vẽ hoa vẽ lá, là countersign cho cái thời điểm yes ban đầu. Nhà phê bình truyền thống có thể vẽ ra cốt truyện dài thòng chi tiết. Nhà cấu trúc luận chỉ vỏn vẹn thế này:

lọt lòng >> 0 >> đứt ruột

Khốn nỗi Kiều mắc kẹt trong cốt truyện truyền thống. Là nhân vật, Kiều không được cái đặc quyền leo ra leo vào câu chuyện, như Lan Hương đã cho Nguyễn Du leo vào leo ra mấy bận, mỗi bận lại đổi áo làm Kim làm Thúc làm Từ. Nên Kiều chẳng thể nhìn về tương lai mà biết từ đó đến hết chỉ có một màu u ám hay còn màu a lơ canh nào khác, Kiều đành nhìn về quá khứ, mỗi lần lại counterđau lại cái thời điểm yes ban đầu, dù nỗi đau mỗi lần lại stale thêm một tí và khán giả xem Đạm Tiên múa đi múa lại một bài cũng ngán thêm một tí:

Xót thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng

Kiều đối với người tình (miệng) một đêm nuôi một lòng trung thành đáng kinh ngạc, không thua gì lòng kẻ mất quê hương. Dù đã làm tròn bổn phận practical bằng cách đem Thúy Vân làm hình nhân thế mạng, Kiều vẫn sở hữu nó, cái tương lai ân ái possible mà Kim Trọng là hóa thân và biểu tượng, một cách tinh thần, một cách khăng khăng, một cách ám ảnh. Đã bước hẳn qua điểm số 0, Kiều vẫn ngoái lại mà nhìn cái trục số ảo lẽ ra có thể mọc ra từ điểm đó. Mặt khác, chính nhờ có Thúy Vân làm hình nhân thế mạng mà Kiều mới có thể yên tâm sở hữu tinh thần như thế, và lại một cách trong sạch và trinh bạch nữa, vì chẳng ai có thể đổ tội cho Kiều mưu toan quay về đòi lại thời gian đã mất, một khi đã yên tâm mường tưởng “Duyên em dù nối chỉ hồng – Rồi ra khi đã tay bồng tay mang”.

Như mọi kẻ exile của thời đại cũ (phi internet), Kiều chỉ có thể khắc khoải ngóng tin quê bằng tưởng tượng, hoặc thi thoảng bằng tin tức chớp tắt đã quá outdated qua vãi Giác Duyên. Như mọi kẻ exile của thời đại cũ, Kiều ngóng quê qua biểu tượng, và qua trí tưởng tượng phóng đại nốt ruồi duyên mà lờ đi vết rỗ hoa. Như mọi kẻ exile của thời đại cũ, khi trở lại… Mà, đã thành quy luật, mọi kẻ exile đều mơ ngày trở lại, dù có bất khả đến đâu, dù án chính trị trên đầu, dù da mồi tóc bạc, dù là nắm xương tàn. Còn Kiều có mơ không? Với tất cả những lần countersign qua năm cuộc kiệu hoa và hai lần vợ khắp người ta?

Té ra là có.

Gần hết án mười lăm năm, dù Kiều vì là nhân vật và vì án không tuyên trước tòa nên chẳng thể biết là gần hết, Kiều gặp một nấc đường dù chẳng đưa quay ngược trở lại mốc ban đầu, nhưng cũng có thể đi tiếp thong dong êm ả hơn trước. Kiều gặp Từ Hải, lần đầu được làm kẻ ngồi chứ không phải làm thằng lạy, lần đầu có người nắm tay giữa công chúng, gọi chính danh. Lần đầu sau mốc số 0, Kiều múa đẹp, dù đẹp giống hồ ly (chứ làm sao còn được lả lướt ngây thơ như thuở xuân xanh xấp xỉ). Từ Hải không chỉ là công cụ cho Kiều lại có một thứ từa tựa như identity, mà còn là công cụ cho Kiều, và Nguyễn Du, gút lại mọi loose end lòng thòng từ đầu đến giờ. Thằng cần chém đem chém, thằng muốn chém nhưng không chém được thì miễn cưỡng tha, nhưng cũng chém gió ngang tai. Chuyện đã có thể đến đó là dừng, happy ending, màn hạ.

Nhưng còn một cái loose end rất to mà Kiều lờ bẵng bằng băng. Cũng đừng nói vì Kiều ngại ngùng Từ Hải: nếu không sức mấy nói câu “há dám phụ lòng cố nhân” với Thúc? Nếu Kiều không chớp ngay cơ hội mà gút, thì thẳng thắn với nhau, đấy là vì Kiều không muốn gút. Kể ra exile rồi cưỡi xe tăng nước mới về lại quê cũ cũng có hơi chối. Tưởng tượng binh mã nhà Từ tới mời Kim đến, hai người nhìn mặt sẽ nói gì? Thế nên dù Từ có ngỏ lời rộng rãi, Kiều vẫn lần lừa, ngồi góc trời năm năm chẳng thấy ỏ ê cửa nhà gì sất. Nhưng lại nữa, chẳng phải Kiều đã tuyệt tình với mốc số 0. Kiều xúi Từ vào chỗ chết suy cho cùng cũng chỉ vì fantasy “Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương”. Vậy chẳng phải Kiều chẳng muốn về, Kiều chỉ chẳng muốn về mang passport mới. Lòng Kiều còn năm bè bảy bối, thì trách gì trời chẳng biết đằng nào mà chiều? Rốt cuộc cũng như ý, Kiều chẳng về cùng Từ Hải, mỗi tội cũng chẳng được “ngôi mệnh phụ đường đường” mà vểnh râu với em rể mới như mình tưởng.

Từ đã mở nhánh rẽ cho Kiều thoát hẳn giấc ám ảnh của kẻ exile, Kiều đã chặt nốt cầu này trước mặt. Cái loose end cuối cùng cũng được gút, Kiều cũng có closure, chưa cần chết ba năm cũng được quay đầu về núi. Mỗi tội lúc này, khi giấc mộng hiện thành rồi, Kiều mới nhận ra chẳng phải cứ technicolor là hơn đen trắng. Trong những hoài niệm ly hương, Kiều chẳng thấy ông quan bụng phệ vợ đàn con đống nằng nặc đòi consummate, cũng chẳng thấy cả gia đình rình rập chờ nghe chuyện động phòng của ông quan bụng phệ cùng cô điếm nghỉ hưu non. Vậy như mọi kẻ exile thời đại cũ, khi trở về thì chỉ thấy cao ốc đã mọc lên ép bẹp nếp nhà xưa, qua năm bảy lần đảo chính chẳng ai còn nhớ tên mình, chẳng ai đọc ra cái lon trên vai, mà vai áo cũng đã sờn, bạc như râu trên miệng. Đành ngậm ngùi ngửa đầu than một câu rồi lẽo đẽo lên đường ly hương tiếp, lần này còn buồn chán gấp tỉ lần vì có nhìn mãi về gốc số 0 cũng chẳng thấy có gì mong đợi trở về. May Nguyễn Du khôn ngoan kết thúc ở đây bằng một bài mô ran rất ư hàm hồ, vẫn được khán giả vỗ tay vì kết thúc kiểu gì cũng đáng hoan nghênh cả. Làm thế nào Kiều sống sót được qua từng ấy năm không rõ số trước mắt, đấy là việc của Kiều. (Anh Ngọc từng tương thêm một câu, “Rốt cuộc, Kiều chẳng có chồng, cũng chẳng có con, chỉ có mỗi mớ danh từ tuyệt đẹp.”)

Nhưng vẫn còn một điều khiến mình băn khoăn.

Đấy là cái khoảng thời gian không xác định, chẳng rõ vài ngày hay vài tháng, từ khi Giác Duyên vớt được người trôi sông dưới Tiền Đường cho đến khi Giác Duyên vấp phải cả nhà Kiều hì hụp cúng bái bên sông. Sự xuất hiện arbitrary của Hồ Tôn Hiến sau 5 năm yên ổn chẳng có sự vụ gì thì rõ là on cue, để nhắc Từ Hải đã sắp hết giờ allot cho Kiều trên sân khấu. Sự xuất hiện của Giác Duyên thì bớt artificial hơn một tí, chẳng gì bà cũng đã cài cắm bên sông tự thuở nào, chỉ đợi rước Kiều thẳng từ tay Hồ Tôn Hiến. Nhưng thời gian dừng chân của Kiều ở thảo am, có phải chỉ để tiêu nốt vài ngày thừa trong 15 năm còn lại, như khi lớp học tan sớm đứa trẻ quẩn quanh ở phòng bảo vệ chờ bố mẹ vượt tắc đường?

Hay chính quãng thời gian ấy mới là khi, yên ổn eventless đến nỗi Nguyễn Du chẳng có gì để kể, lần đầu tiên Kiều được thanh thản rũ bỏ những identity khó chịu bên ngoài, vợ chung, vợ chạ, vợ giấu, vợ lẽ, vợ thổ phỉ, chính chúng nó tạo ra áp lực phải bám chằng chằng lấy cái identity đẹp đẹp bên trong, vợ tinh thần của chàng thư sinh thơm nức, lần đầu tiên Kiều được giải phóng khỏi những lo lắng mơ hồ và chờ đợi ở thì tương lai gần – bao giờ thì Thúc sinh về? bao giờ thì Từ Hải chiến thắng hay bị chặt cổ? bao giờ thoát khỏi đây, trong số nửa tá cái “đây”? – giải phóng hoàn toàn khỏi thời gian, chỉ biết gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng, triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau, chẳng deadline, chẳng đòi hỏi, chẳng tạo dựng bản thân để bày ra trước mắt người đời. Đấy mới là khi, dù đủ trí tuệ để xem xét lại mười lăm năm dập vùi cùng những giấc mơ mãi chỉ là giấc mơ hay không, Kiều được thoát ra khỏi gọng kìm tâm lý của những chữ quê-hương, chữ bản-thể, chữ người-lạ, của cái lẽ-ra-phải-có và cái vẫn-còn-có-thể, mà chỉ cần cái sadna, cái lúc-này, mà cũng chẳng phải là cần nữa, mà chỉ , chỉ tự nhiên nhi nhiên? Và cần bao lâu để nhận ra như thế? Và đấy lại là một mốc số 0′, hay là tiệm tiến dần dần qua thời gian, và đến một sáng tỉnh dậy, Kiều chợt nhận ra (hoặc không cần nhận ra) mình đã bước qua mốc ấy từ rất lâu rồi? Nếu nhà Kiều đến sớm một ngày, liệu có vô ý chặn đường Kiều trước mốc ấy, đẩy Kiều ngược lại những giấc mơ vô ích và vô tích sự, rồi ra Kiều sẽ về, hoan hỉ tái ngộ Kim vì nghĩ mình cần hoan hỉ, thuận lòng chung chăn gối vì nghĩ mình muốn thế, cả đời từ đó về sau hạnh phúc vì nghĩ mình đang hạnh phúc? Chứ không phải phát sốt phát rét năn nỉ Kim, đừng đụng vào em, như thế này. Toàn bộ những chuyện đó thì Nguyễn Du không nói, chắc vì thiếu hấp dẫn kịch tính, hoặc cũng có thể vì ông cáo già.

Cho nên Kiều về nhà lập am cho vãi Giác Duyên đã bỏ đi mất tích, nhưng chắc là để thi thoảng, khi nào stress quá vì những chuyện đã không còn màng tới xung quanh, đàn con của Thúy Vân mắn đẻ, những nhức óc quan trường của Kim, và chính trị gia đình nói chung khi có anh chàng ở rể, nàng lại viện cớ “nặng vì chút nghĩa bấy lâu” mà lẻn lên am tụng kinh gõ mõ. Kiều về “nhà” lại là bắt đầu một chuyến exile mới, vĩnh viễn, may lần này, lối ra ở ngay trong mình.

Cho nên Lan Hương cắt nốt những lằng nhằng đó mà cho Kiều lên ngồi tòa sen đội khăn phật bà là vừa hiểu ý vừa nhân đạo. Còn bọn nhà báo hay giảng viên Cơ sở văn hóa Việt Nam chê bôi dẻo mỏ, là loại sang đến Gia Nã Đại rồi còn mò đến đại sứ quán đốt cờ.


Viết đoạn này trong lúc nghe Hồng lâu mộng OST, càng thêm thảm thê thê thảm. Lại thêm một con nhỏ outsider, étranger, năm tuổi đã lên thuyền đi ở đậu.

Lúc nhạc tắt, ngoài chợ vang lại tiếng hai bà bán thịt chửi nhau.

(Bối cảnh. Công nhận có mỗi rì viu trên báo Đảng là hợp ý mình.)