[vi] Margaret Atwood – Lady Oracle (extract)

Chương 26

Rất nhiều tuần sau vụ nổ, Marlene và Don cùng những người còn lại vẫn tin rằng tôi đang chở khối thuốc nổ loanh quanh trong thành phố, trong một chiếc Chevrolet 1968 màu ghi. Còn họ thì vẫn bàn cãi về mưu đồ hành động. Không phải là kế hoạch thực hiện, vì chẳng bao giờ đi xa được đến thế. Họ còn chẳng tới được bản đồ và phương án, họ ngắc lại ở mức độ lý thuyết thuần túy: chọn đối tượng này cho nổ đã phải thích hợp nhất hay chưa? Đấy sẽ là một cử chỉ yêu nước, đúng thế, nhưng như thế đã đủ yêu nước chưa, và nếu rồi thì liệu nó có đem lại điều gì cho nhân dân? Rất cần phải có một cử chỉ quyết định, Don lập luận, nếu không họ sẽ bị qua mặt. Chưa gì những ý tưởng mà họ cho là của mình mình đã bắt đầu xuất hiện trên xã luận các báo, và kết quả thăm dò ý kiến của Gallup đang ngả về phía họ. Những tiến triển này bị họ nhìn bằng con mắt lo ngại: cuộc cách mạng đang rơi vào tay những kẻ đáng ngờ.

Tôi không quản việc di chuyển lung tung khối thuốc nổ tưởng tượng trong thành phố. Đấy là lý do hoàn hảo cho tôi đi khỏi căn hộ bất kỳ lúc nào. “Đến lúc dời chỗ thuốc nổ rồi,” tôi hớn hở nói, và Arthur không nói gì được thêm. Mà đúng ra anh còn tự hào về tôi. “Phải thừa nhận là cô bé gan góc thật,” Sam nói. Họ thấy tôi rất oai.

Những lần ấy nói chung tôi đến nhà Con Nhím Hoàng Gia. Nhưng có những điều đang thay đổi. Tấm khăn bàn viền ren tôi từng mặc khiêu vũ với hắn đang trở lại thành khăn bàn viền ren, toạc một vết; đôi bốt đen mũi nhọn không còn đem lại nỗi vui đủ bù cái đau ở chân. Nhà nghỉ trở làm nhà nghỉ, và bây giờ với tôi nơi đó chỉ đem đến mệt nhọc và ngượng ngùng. Sturgess càng ngày càng xếp cho tôi nhiều chuyến đi, Sudbury, Windsor, và tôi càng lúc càng phải bỏ ra nhiều hơn để vượt qua các buổi phỏng vấn.

Khi quay về tôi thường về lại nhà nghỉ giặt quần áo con và tất chân trong bồn rửa mặt, bọc vào khăn tắm mà vắt rồi phơi lên mắc áo. Đến sáng chẳng bao giờ chúng kịp khô nhưng tôi vẫn mặc vào, cảm thấy cái dính nhớp nhầy nhậy trên da thịt. Cứ như mặc vào cái hơi thở của người khác đã dùng. Trong lúc Con Nhím Hoàng Gia ngồi trên mép giường, trắng bệch và gầy như rễ cây, luôn mồm hỏi.

“Anh ta thế nào?”

“Ai?”

“Arthur, chứ ai nữa. Thường thì bao lâu…”

“Chuck, đấy không phải việc của anh.”

“Đấy là việc của anh,” hắn nói. Hắn không càu nhàu vì cách gọi nữa; hắn ta càng lúc càng bớt giống Con Nhím Hoàng Gia và càng ngày càng giống Chuck. “Em có hỏi câu nào về các bạn gái của anh đâu.”

“Anh bịa ra các cô nàng ấy đấy,” hắn hờn dỗi nói. “Ngoài em ra không có ai cả.”

“Thế thì ai mang bánh bí đỏ đến?”

“Mẹ anh,” hắn nói. Tôi biết đấy là nói dối.

Trước đó hắn vốn vẫn sống trong cuốn tiểu sử chưa viết của mình, nhưng bây giờ hắn bắt đầu nhìn hiện tại cứ như đấy đã là quá khứ, ướp trong một nỗi nhớ nhung u hoài. Mỗi hiệu ăn chúng tôi ghé hắn đều bước ra trong tiếng thở dài và cái nhìn gửi lại; hắn nói về những việc chúng tôi vừa làm tuần trước như nói về những tấm ảnh trong cuốn album bụi bặm từ lâu. Mỗi cử chỉ của tôi đều bị đóng băng giữa lúc tôi làm, mỗi cái hôn đều hóa thạch, như đang dành dụm. Tôi thấy mình như món đồ sưu tập. “Em vẫn chưa chết đâu,” tôi nói với hắn không chỉ một lần, “đừng có nhìn em như thế.”

Đấy là một trong những tâm trạng của hắn dạo này. Lúc khác hắn sẽ tỏ ra thù địch công khai. Hắn bắt đầu một mối quan tâm bệnh hoạn với những bài báo không phải về chính hắn, vì cũng không có mấy, mà về tôi. Hắn sẽ cắt ra và đọc lên để nhiếc móc tôi.

“Ở đây viết là em là một thách thức cho cái tôi của người nam.”

“Ngớ ngẩn quá phải không,” tôi nói.

“Nhưng em đúng là một thách thức cho cái tôi của người nam,” hắn nói.

“Ồ thôi đi,” tôi nói. “Em đã bao giờ thách thức ai nào?”

“Ở đây viết là em là một mối đe dọa.”

“Anh muốn nói cái khỉ gì đây?” tôi hỏi. Cả chiều hôm ấy tôi đã cực kỳ tử tế, tôi nghĩ thế.

“Em dẫm đạp lên cái tôi của mọi người khác mà thậm chí còn không biết,” hắn nói. “Về mặt tình cảm em hết sức vụng về.”

“Nếu chúng ta bắt buộc phải nói chuyện này thì anh làm ơn mặc đồ vào được không?” tôi nói. Môi dưới tôi run lên; không hiểu sao tôi không thể tranh luận với một người trần trụi.

“Đã thấy chưa?” hắn nói. “Em đang sai bảo anh. Em là một mối đe dọa.”

“Em không đe dọa ai hết,” tôi nói.

“Nếu em không đe dọa ai,” hắn nói, “sao em lại gào lên như thế?”

Tôi bật khóc. Hắn quàng tay ôm tôi, tôi quàng tay ôm hắn, nước mắt rỉ ra như một đứa mồ côi, như củ hành, như con sên rắc muối. “Anh xin lỗi,” hắn nói. “Dù sao thì chắc anh cũng không có cái tôi của người nam, anh chỉ có cái tôi của một con gấu túi Úc.”

“Em cứ nghĩ chuyện này sẽ nhẹ nhàng,” tôi nói, giữa những cú khụt khịt.

“Rất nhẹ nhàng, rất nhẹ nhàng,” hắn nói. “Còn chưa đến lúc nặng nề. Anh chỉ buồn chán vì trời mưa nhiều và anh hết tiền rồi.”

“Ra ngoài ăn KFC nhé,” tôi nói và quệt mũi. Nhưng hắn không đói.

Một chiều mưa khi tôi ghé qua nhà kho, hắn đang chờ tôi, đóng bộ đầy đủ trong áo choàng thường lệ và cái cà vạt mới tinh, màu hạt dẻ kiểu Hội tàn phế với hình một cô người cá. Hắn chụp lấy eo tôi xoay một vòng quanh sàn, đôi mắt lóe sáng.

“Cái gì thế?” tôi nói khi đã lấy được hơi. “Ma quỷ nào nhập vào anh thế?”

“Có một bất ngờ,” hắn nói. Hắn kéo tôi lại giường: trên giường là một cái mũ nồi trắng từ những năm năm mươi trông hết sức quái gở, có cả lông chim và mạng.

“Cái của này ở đâu ra thế?” tôi hỏi, bụng nghĩ không biết hắn ta lại đang phấn khích với trò chơi mới nào. Thập kỷ năm mươi chưa bao giờ là thời đại ưa thích của hắn.

“Đấy là mũ đi đường cho em,” hắn nói. “Anh kiếm được ở hiệu Sally Ann, tám mươi chín xu.”

“Nhưng để làm gì?”

“Để đi đường, tất nhiên,” hắn nói, vẫn rất hân hoan. “Anh nghĩ chúng mình có thể, em biết đấy, ra đi cùng nhau. Bỏ trốn.”

“Anh điên à,” tôi nói. “Đi đâu được chứ?”

“Buffalo thì sao?”

Tôi bật cười, rồi nhận ra hắn đang nói nghiêm chỉnh. “Dễ thương lắm,” tôi nói, “nhưng anh biết là em không làm thế được.”

Hắn muốn tôi bỏ Arthur về ở với hắn. Chuyện suy cho cùng thì là như thế, và rốt cuộc hắn cũng thừa nhận. Chúng tôi ngồi cạnh nhau trên giường, mắt nhìn xuống sàn. “Anh muốn sống với em một cuộc sống bình thường,” hắn nói.

“Em không nghĩ là được đâu,” tôi nói. “Em nấu ăn rất tệ. Làm gì cũng cháy.”

“Anh muốn sáng sáng thức dậy ăn sáng với em và đọc Thư tín toàn cầu.”

“Em có thể qua ăn sáng,” tôi nói. “Ăn sáng muộn.”

“Anh muốn chải tóc cho em.”

Tôi bắt đầu sụt sịt. Có lần tôi đã kể Arthur thích chải tóc cho tôi, ít ra là ngày xưa.

“Anh ta có gì mà anh không có chứ?”

Tôi không biết. Nhưng tôi không muốn hắn làm hỏng mọi thứ, không muốn hắn biến thành màu xám, đa chiều và phức tạp như mọi kẻ khác. Chẳng lẽ bên trong mỗi Heathcliff đều giấu một Linton? Tôi muốn gì, phiêu lưu hay an toàn, và trong số hai người ấy ai đem lại điều nào? Có thể chẳng ai đem lại điều nào cả, mà chỉ muốn tôi đem lại cả hai, và lần này nữa tôi lại chứng tỏ mình kém cỏi. Con Nhím Hoàng Gia ngả đầu lên bụng tôi, chờ trả lời.

“Em không biết,” tôi nói. “Vấn đề không phải ở đó.”

Hắn ngồi dậy. “Cái phiền của em là ở đó, em không có mục đích gì hết. Em không hiểu như thế nguy hiểm thế nào à? Em giống như cái xe buýt chở học sinh mất tay lái.”

“Em có cố tình đâu,” tôi nói. Để làm hòa, tôi mua cho hắn lọ vitamin uống hàng ngày và một đôi tất, rồi lau bụi cho lũ thú nhồi. Tôi còn cho hắn cả con cáo, mà ngày xưa dì Lou cho tôi. Đấy là một món quà lớn: tôi quý nó rất nhiều. Lúc trước chắc hắn vui thích lắm, nhưng bây giờ hắn chỉ liếc nhìn.

“Ít nhất em cũng có thể nói cho anh ta biết chuyện chúng ta,” hắn nói. “Nhiều lúc anh nghĩ em xấu hổ vì anh.”

Nhưng tôi kiên quyết dừng ở đó. “Em không làm thế được,” tôi nói, “như thế tất cả sẽ hỏng hết. Em yêu anh.”

“Em không dám liều với anh,” hắn rầu rĩ nói. “Anh thấy mà. Bây giờ thì anh chưa là cái gì, anh thừa nhận, nhưng nghĩ đến tương lai xem!”

“Em thích anh đúng như bây giờ,” tôi nói, nhưng hắn không tin. Không phải là tôi không yêu hắn. Tôi có yêu, theo một kiểu riêng, nhưng tôi biết mình không thể sống chung với hắn. Ở hắn thì, thực tại và tưởng tượng cùng là một, có nghĩa là với hắn không có thực tại. Nhưng với tôi thế có nghĩa là không có tưởng tượng, và nghĩa là không lối thoát.

Lần sau đó khi mở cửa thang máy chở hàng, tôi rơi ngay vào trận địa mai phục. Con Nhím Hoàng Gia đang chờ ở đó, nhưng đấy không còn là Con Nhím Hoàng Gia. Hắn đã cắt tóc và cạo nhẵn râu. Hắn đang đứng giữa phòng, không áo choàng, không gậy, không tất tay, chỉ có quần bò và áo phông trên có chữ Honda. Hắn chỉ còn là Chuck Brewer, có phải trước giờ vẫn thế, đằng sau chòm râu? Trông hắn như con gà vặt trụi lông.

“Ối trời ơi,” tôi gần như thét lên. “Anh làm thế để làm gì?”

“Anh giết hắn rồi,” Chuck nói. “Hắn đã xong đời, hắn đã chết.” Tôi bật khóc. “Ồ, quên mất còn cái này,” hắn nói. Hắn giật tung tấm ảnh Nữ hoàng, rồi tấm poster thuốc nổ, và vứt cả vào đống đồ hóa trang trên sàn.

“Thế còn bầy thú của anh?” tôi hỏi một câu ngu ngốc.

“Anh sẽ quẳng chúng đi,” hắn nói. “Giờ chúng không được tích sự gì nữa.”

Tôi nhìn chằm chằm vào cái cằm hắn, tôi chưa từng nhìn thấy nó bao giờ. “Bây giờ thì em về chứ?” hắn nói. “Không cần phải sống ở đây, chúng ta có thể tìm nhà.”

Thật kinh khủng hết sức. Hắn cứ nghĩ tự biến đổi mình cho giống Arthur hơn là có thể chiếm chỗ Arthur, nhưng làm thế hắn đã giết chết phần tôi yêu trong hắn. Tôi không biết phải vỗ về phần ở lại thế nào. Không có râu, cằm hắn trông giống như một gã kế toán tập sự.

Tôi tự thấy ghét mình vì đã nghĩ thế. Tôi cảm thấy mình giống một con quỷ, một con quỷ to xù đần độn, nông cạn đến mức đáng hổ thẹn. Làm thế nào giữa lúc này tôi vẫn còn nghĩ được đến cái cằm? Tôi ôm chầm lấy hắn. Tôi không thể làm điều hắn muốn, như thế không đúng tí nào.

“Anh thấy là em không muốn,” hắn nói và gỡ tôi ra. “Xem ra chỉ còn làm được một điều. Tự tử chung thì sao? Hoặc là anh có thể bắn em chết rồi ôm xác em lên nóc Trung tâm Toronto Tự trị nhảy xuống.” Hắn cố một nụ cười nhợt nhạt, nhưng không lừa được tôi. Hắn nói hoàn toàn nghiêm túc.

Advertisements